Chuyển đến nội dung chính

Đọc miễn phí chương 1. Không cần đăng ký.

Tìm theo tên sách hoặc thể loại
Giỏ hàng

Giỏ hàng của bạn đang trống.

Khám phá tất cả sách

Mở hoặc đóng trình đơn
Bìa sách «Một người tên là Thứ Năm» của G. K. Chesterton

Bản đọc thử miễn phí

Một người tên là Thứ Năm

Tác giả: G. K. Chesterton

Tác phẩm kinh điển của G. K. Chesterton thuộc về công chúng · Bản dịch mới do NovelSpell thực hiện

Chọn phiên bản

Một người tên là Thứ Năm

G. K. Chesterton

Chương 1: Hai nhà thơ ở Saffron Park

Khu ngoại ô Saffron Park nằm về phía mặt trời lặn của Luân Đôn, đỏ rực và lởm chởm như một đám mây hoàng hôn. Toàn khu xây bằng gạch màu tươi rói; đường nét mái nhà in lên nền trời thật kỳ quái, mà ngay cả cách bố trí mặt bằng cũng ngông cuồng. Nơi ấy ra đời từ một cơn bốc đồng của một chủ thầu đầu cơ nhà đất phảng phất chút máu nghệ sĩ; ông ta lúc gọi kiến trúc ấy là kiểu thời Elizabeth, lúc lại bảo là kiểu thời Nữ hoàng Anne, dường như tưởng hai vị quân vương ấy là một. Gọi đó là một xóm nghệ sĩ cũng có phần đúng, tuy nơi ấy chưa từng sản sinh ra nghệ thuật theo bất cứ nghĩa rõ ràng nào. Nhưng cái danh trung tâm trí thức tuy có phần mơ hồ, cái tiếng là một chốn dễ chịu thì hoàn toàn không thể chối cãi. Khách lạ lần đầu ngắm những ngôi nhà đỏ ngộ nghĩnh ấy chỉ có thể nghĩ rằng người nào ở vừa trong đó hẳn cũng phải có hình thù kỳ quặc lắm. Đến khi gặp cư dân ở đây, khách cũng không thất vọng về điểm ấy. Nơi này không chỉ dễ chịu mà còn hoàn hảo, miễn là có thể xem nó như một giấc mơ thay vì một trò lừa bịp. Dẫu cư dân không phải là “nghệ sĩ”, toàn thể nơi ấy vẫn mang tính nghệ thuật. Người thanh niên tóc nâu đỏ để dài, mặt mày xấc xược kia — anh ta không thật sự là một nhà thơ; nhưng chắc chắn anh ta là một bài thơ. Ông già với bộ râu trắng rối bời và chiếc mũ trắng cũng rối bời kia — lão bịp bợm khả kính ấy không thật sự là một triết gia; nhưng ít ra cũng khiến người khác phải triết lý. Ông ra vẻ nhà khoa học kia, với cái đầu hói như quả trứng và chiếc cổ trần như cổ chim, chẳng có tư cách gì để khoác bộ dạng khoa học ấy. Ông chưa khám phá ra điều gì mới trong sinh học; nhưng liệu ông có thể khám phá ra sinh vật nào lạ lùng hơn chính mình? Phải nhìn cả khu ấy như thế, và chỉ như thế mới đúng; phải xem đó là một tác phẩm nghệ thuật mong manh nhưng hoàn chỉnh hơn là một xưởng sáng tác cho các nghệ sĩ. Bước vào bầu không khí giao du nơi ấy, người ta có cảm giác như vừa bước vào một vở hài kịch đã được viết sẵn.

Vẻ hư ảo hấp dẫn ấy đặc biệt phủ xuống nơi này lúc đêm buông, khi những mái nhà quá đỗi kỳ dị in đen trên ráng chiều, và cả ngôi làng điên rồ dường như tách biệt hẳn, như một đám mây trôi. Cảm giác ấy càng rõ hơn trong nhiều đêm hội hè của địa phương, khi những khu vườn nhỏ thường được thắp sáng, và những chiếc đèn lồng Trung Hoa to lớn rực lên giữa các thân cây thấp bé như một thứ quả dữ tợn, quái dị. Và rõ nhất là vào một buổi tối đặc biệt mà dân vùng ấy còn nhớ mang máng, buổi tối nhà thơ tóc nâu đỏ là nhân vật chính. Đó tuyệt nhiên không phải buổi tối duy nhất anh ta là nhân vật chính. Nhiều đêm, người đi ngang khu vườn nhỏ sau nhà anh ta có thể nghe thấy giọng cao vút đầy vẻ giáo huấn của anh ta đang phán bảo với đàn ông, nhất là với phụ nữ. Thái độ của phụ nữ trong những trường hợp như vậy quả là một trong những nghịch lý của nơi này. Phần lớn phụ nữ ở đây thuộc hạng thường được gọi một cách mơ hồ là đã giải phóng, và đều tỏ ý phản đối ít nhiều sự thống trị của nam giới. Thế nhưng những phụ nữ tân thời ấy bao giờ cũng dành cho đàn ông một sự trọng thị quá mức mà chẳng phụ nữ bình thường nào dành cho họ: lắng nghe khi họ nói. Mà anh Lucian Gregory, nhà thơ tóc đỏ, quả thật (theo một nghĩa nào đó) là người đáng nghe, dẫu cuối cùng người ta chỉ bật cười. Anh ta trình bày luận điệu sáo mòn về tính vô luật lệ của nghệ thuật và nghệ thuật của sự vô luật lệ với một vẻ mới mẻ xấc xược, ít ra cũng đem lại đôi chút thú vị trong chốc lát. Ngoại hình kỳ dị dễ hút mắt cũng phần nào giúp anh ta; như người ta thường nói, anh ta khai thác nó đến triệt để. Mái tóc đỏ sẫm rẽ ngôi giữa của anh ta đúng là tóc đàn bà, uốn thành những lọn buông lơi như tóc một trinh nữ trong tranh Tiền Raphael. Nhưng từ trong cái khung trái xoan gần như thánh thiện ấy, khuôn mặt anh ta bất chợt nhô ra, bè rộng và hung bạo, cằm chìa về trước với vẻ khinh khỉnh kiểu Cockney. Sự kết hợp ấy khiến đám cư dân vốn thần kinh nhạy cảm vừa thích thú vừa khiếp sợ. Anh ta giống như một lời báng bổ biết đi, pha trộn giữa thiên thần và loài vượn.

Buổi tối đặc biệt ấy, nếu chẳng còn gì khác đáng nhớ, thì nơi này vẫn sẽ nhớ đến nó vì cảnh hoàng hôn lạ lùng. Cảnh ấy trông như ngày tận thế. Khắp tầng không dường như phủ kín một bộ lông hiện lên rành rành, gần như sờ được; chỉ có thể nói rằng trời đầy lông vũ, những chiếc lông vũ gần như quệt vào mặt. Trên phần lớn vòm trời, chúng có màu xám, nhuốm những sắc tím và tím hoa cà kỳ lạ vô cùng, cùng một màu hồng hay xanh lá nhạt trái tự nhiên; nhưng về phía tây, tất cả trở nên không lời nào tả xiết, trong suốt và nồng cháy, và những chùm lông cuối cùng đỏ rực như than hồng che kín mặt trời như che một thứ quá đẹp để ai được nhìn thấy. Tất cả ôm sát quanh mặt đất đến mức chỉ còn toát lên một vẻ bí mật dữ dội. Ngay cả cõi trời cao nhất cũng như một điều bí mật. Nó biểu lộ cái nhỏ bé huy hoàng vốn là linh hồn của lòng yêu quê hương bản quán. Ngay cả bầu trời cũng có vẻ nhỏ bé.

Tôi nói rằng có những cư dân còn nhớ buổi tối ấy, dù chỉ vì bầu trời ngột ngạt kia. Có những người khác nhớ nó vì đó là lần đầu nhà thơ thứ hai của Saffron Park xuất hiện ở đây. Suốt một thời gian dài, nhà cách mạng tóc đỏ đã ngự trị mà không có đối thủ; chính vào cái đêm có cảnh hoàng hôn ấy, sự đơn độc của anh ta đột ngột chấm dứt. Nhà thơ mới đến, tự giới thiệu tên là Gabriel Syme, là một người trông rất hiền lành, có chòm râu nhọn màu sáng và mái tóc vàng nhạt. Nhưng dần dần, người ta có cảm tưởng anh không nhu mì như vẻ ngoài. Anh đánh dấu lần ra mắt bằng cuộc bất đồng với Gregory, nhà thơ vốn ngự trị ở đây, về toàn bộ bản chất của thi ca. Anh nói mình (Syme) là nhà thơ của luật pháp, nhà thơ của trật tự; hơn thế nữa, anh còn nói mình là nhà thơ của sự đứng đắn. Thế là tất cả dân Saffron Park nhìn anh như thể anh vừa rơi xuống từ bầu trời phi lý kia.

Thực vậy, anh Lucian Gregory, nhà thơ vô chính phủ, đã nối hai sự kiện ấy với nhau.

“Rất có thể,” anh ta nói, giọng bỗng trở nên trữ tình, “rất có thể chính trong một đêm đầy mây và những màu sắc tàn nhẫn thế này, mặt đất lại sinh ra một điềm gở như một nhà thơ đứng đắn. Anh nói mình là nhà thơ của luật pháp; tôi bảo nói vậy là tự mâu thuẫn. Tôi chỉ ngạc nhiên sao chẳng có sao chổi và động đất vào cái đêm anh xuất hiện trong khu vườn này.”

Người đàn ông có đôi mắt xanh lam hiền lành và chòm râu nhọn màu nhạt hứng chịu những lời sấm sét ấy với một vẻ trịnh trọng cam chịu. Người thứ ba trong nhóm, Rosamond, em gái Gregory, cũng có những bím tóc đỏ như anh trai nhưng khuôn mặt bên dưới hiền hậu hơn, bật cười, vừa thán phục vừa không tán thành, như cô vẫn thường dành cho vị tiên tri của gia đình.

Gregory lại tiếp lời, vui vẻ cao giọng hùng biện.

“Nghệ sĩ với người vô chính phủ là một,” anh ta kêu lên. “Anh có thể tráo hai từ ấy cho nhau ở bất cứ đâu. Người vô chính phủ là nghệ sĩ. Kẻ ném bom là nghệ sĩ, vì với kẻ ấy, một khoảnh khắc lớn lao đáng giá hơn tất thảy. Kẻ ấy thấy một lần ánh sáng bùng lên chói lọi, một tiếng sấm rền hoàn hảo, quý giá hơn biết bao so với những thân xác tầm thường của vài viên cảnh sát chẳng ra hình thù gì. Nghệ sĩ bất chấp mọi chính quyền, xóa bỏ mọi quy ước. Nhà thơ chỉ thích sự hỗn loạn. Nếu không thế, thứ nên thơ nhất trên đời hẳn phải là đường sắt ngầm.”

“Thì đúng là thế,” anh Syme nói.

“Vớ vẩn!” Gregory nói, vốn hết sức lý trí mỗi khi có ai khác thử nói nghịch lý. “Sao tất cả đám viên chức bàn giấy và phu đường sắt trên tàu đều trông buồn bã mệt mỏi, vô cùng buồn bã mệt mỏi? Tôi sẽ nói cho anh biết. Bởi họ biết tàu đang đi đúng đường. Bởi họ biết mua vé đi đâu thì sẽ đến đúng nơi ấy. Bởi sau khi qua Sloane Square, họ biết ga kế tiếp nhất định phải là Victoria, không đâu khác ngoài Victoria. Ôi, họ sẽ ngây ngất đến điên cuồng! Ôi, mắt họ sẽ sáng như sao, linh hồn họ sẽ lại ở vườn Địa Đàng, nếu chẳng hiểu vì sao ga kế tiếp lại là Baker Street!”

“Chính anh mới chẳng có chất thơ,” nhà thơ Syme đáp. “Nếu những điều anh nói về đám viên chức là đúng, thì họ cũng chỉ khô khan đến bằng thơ anh là cùng. Bắn trúng đích mới là chuyện hiếm có, lạ lùng; bắn trượt là chuyện tầm thường, hiển nhiên. Ta thấy thật đậm chất sử thi khi con người dùng một mũi tên lao vun vút bắn trúng con chim ở tít đằng xa. Chẳng phải cũng đậm chất sử thi khi con người dùng một đầu máy lao vun vút mà tới đúng một nhà ga xa tít đó sao? Hỗn mang buồn tẻ; bởi trong hỗn mang, tàu quả thật có thể đi bất cứ đâu, đến Baker Street hay Baghdad. Nhưng con người là phù thủy, và toàn bộ phép thuật của con người nằm ở chỗ: nói Victoria, và kìa! đúng là Victoria. Không, anh cứ giữ lấy những cuốn sách thơ văn suông của anh; hãy để tôi đọc một cuốn giờ tàu, nước mắt rưng rưng vì tự hào. Anh cứ giữ lấy Byron của anh, người ca tụng những thất bại của con người; hãy cho tôi Bradshaw, người ca tụng những chiến thắng của con người. Hãy cho tôi Bradshaw, tôi nói thế đấy!”

“Anh phải đi à?” Gregory hỏi giễu cợt.

“Tôi nói anh nghe,” Syme hăng hái tiếp, “hễ một chuyến tàu vào ga, tôi lại có cảm giác nó vừa xông qua những trận địa pháo của quân vây hãm, và con người vừa thắng một trận đánh với hỗn mang. Anh khinh khỉnh nói rằng đã rời Sloane Square thì nhất định phải đến Victoria. Tôi bảo người ta có thể làm cả nghìn chuyện khác thay vì thế, và mỗi lần thật sự đến được đó, tôi đều có cảm giác vừa thoát nạn trong gang tấc. Và khi nghe trưởng tàu hô lên cái tên ‘Victoria’, với tôi, đó chẳng phải một tiếng vô nghĩa. Với tôi, đó là tiếng hô của sứ giả báo tin chiến thắng. Với tôi, đó quả thật là ‘Victoria’; đó là chiến thắng của Ađam.”

Gregory lắc cái đầu tóc đỏ nặng trĩu, nở một nụ cười chậm rãi, buồn bã.

“Mà ngay cả khi ấy,” anh ta nói, “chúng tôi, những nhà thơ, bao giờ cũng hỏi: ‘Và đến nơi rồi, Victoria là cái gì chứ?’ Anh tưởng Victoria giống Giêrusalem Mới. Chúng tôi biết Giêrusalem Mới rồi cũng chỉ giống Victoria mà thôi. Phải, nhà thơ sẽ bất mãn ngay cả trên những đường phố thiên đường. Nhà thơ bao giờ cũng nổi loạn.”

“Lại nữa,” Syme bực bội nói, “nổi loạn thì có gì là nên thơ? Nói như anh thì say sóng cũng nên thơ. Nôn mửa cũng là một cuộc nổi loạn. Nôn mửa hay nổi loạn đều có thể là điều lành mạnh trong một vài tình thế ngặt nghèo; nhưng có treo cổ tôi lên tôi cũng chẳng hiểu được sao chúng lại nên thơ. Nổi loạn xét một cách trừu tượng thì thật — lợm giọng. Chỉ là nôn mửa.”

Cô gái thoáng nhăn mặt vì từ ngữ khó nghe ấy, nhưng Syme đang hăng quá nên không để ý.

“Chính khi mọi việc diễn ra suôn sẻ,” anh kêu lên, “mới là nên thơ! Chẳng hạn, chuyện tiêu hóa của chúng ta cứ diễn ra tốt đẹp một cách thiêng liêng và lặng lẽ, đó là nền tảng của mọi thi ca. Phải, điều nên thơ nhất, nên thơ hơn hoa, nên thơ hơn sao — điều nên thơ nhất trên đời là không nôn mửa.”

“Thật tình,” Gregory nói với vẻ kẻ cả, “những ví dụ anh chọn —”

“Xin lỗi anh,” Syme lạnh lùng nói, “tôi quên mất là chúng ta đã xóa bỏ mọi quy ước.”

Lần đầu tiên, một mảng đỏ hiện lên trên trán Gregory.

“Anh đâu có trông đợi tôi,” anh ta nói, “làm cách mạng xã hội ngay trên bãi cỏ này?”

Syme nhìn thẳng vào mắt anh ta, mỉm cười ngọt ngào.

“Không, tôi không trông đợi thế,” anh nói; “nhưng tôi nghĩ nếu anh nghiêm túc với chủ nghĩa vô chính phủ của mình, thì đó chính là điều anh sẽ làm.”

Đôi mắt to như mắt bò của Gregory bỗng chớp chớp như mắt một con sư tử nổi giận, và người ta gần như có thể tưởng tượng bờm tóc đỏ của anh ta đang dựng lên.

“Vậy anh không nghĩ,” anh ta nói, giọng nghe đáng ngại, “rằng tôi nghiêm túc với chủ nghĩa vô chính phủ của mình sao?”

“Anh nói sao?” Syme hỏi.

“Tôi không nghiêm túc với chủ nghĩa vô chính phủ của mình hay sao?” Gregory kêu lên, hai nắm tay siết chặt.

“Anh bạn thân mến!” Syme nói, rồi thong thả bỏ đi.

Anh ngạc nhiên, nhưng cũng thấy vui một cách lạ lùng, khi nhận ra Rosamond Gregory vẫn đi cùng mình.

“Anh Syme,” cô nói, “những người nói năng như anh và anh trai tôi có thường thật lòng với lời mình nói không? Những điều anh nói lúc này, anh có thật lòng không?”

Syme mỉm cười.

“Còn cô thì sao?” anh hỏi.

“Anh muốn nói gì?” cô gái hỏi, mắt nghiêm nghị.

“Cô Gregory thân mến,” Syme dịu dàng nói, “có nhiều kiểu thành thật và không thành thật lắm. Khi cô nói ‘cảm ơn’ vì được đưa muối, cô có thật lòng với lời mình nói không? Không. Khi cô nói ‘trái đất tròn’, cô có thật lòng với lời mình nói không? Không. Điều ấy đúng, nhưng cô không đặt tâm vào câu nói đó. Còn đôi khi, một người như anh trai cô lại thật sự tìm được một điều mình thực lòng muốn nói. Có thể đấy chỉ là một nửa sự thật, một phần tư sự thật, một phần mười sự thật; nhưng rồi người ấy nói quá cả điều mình thực lòng muốn nói — chỉ vì quá thực lòng.”

Cô nhìn anh dưới đôi mày ngang; gương mặt cô nghiêm trang, cởi mở, và trên đó đã phủ bóng cái ý thức trách nhiệm không cần suy xét vốn nằm sâu trong cả người phụ nữ phù phiếm nhất, sự trông chừng của người mẹ, xưa như thế gian.

“Vậy anh tôi thật sự là người vô chính phủ sao?” cô hỏi.

“Chỉ theo cái nghĩa tôi vừa nói,” Syme đáp; “hoặc, nếu cô thích, theo cái vô nghĩa ấy.”

Cô cau đôi mày rộng lại rồi đột ngột nói —

“Anh tôi sẽ không thật sự dùng — bom hay những thứ như thế chứ?”

Syme phá lên một tràng cười lớn, tưởng như quá khổ so với vóc người mảnh khảnh, có phần chải chuốt của anh.

“Lạy Chúa, không!” anh nói, “việc đó thì phải giấu tên mà làm.”

Nghe vậy, khóe miệng cô cũng hé một nụ cười, và cô thấy vui khi nghĩ cả đến vẻ lố bịch của Gregory lẫn việc anh ta được an toàn.

Syme cùng cô thong thả bước đến một chỗ ngồi ở góc vườn, rồi tiếp tục tuôn ra những ý kiến của mình. Bởi anh là người thành thật, và dù bề ngoài kiểu cách chải chuốt, tự trong sâu thẳm anh vẫn là người khiêm nhường. Mà chính người khiêm nhường bao giờ cũng nói quá nhiều; người kiêu hãnh tự giữ mình quá kỹ. Anh bênh vực sự đứng đắn một cách quyết liệt và quá lời. Anh say sưa ngợi ca sự ngăn nắp và đúng phép tắc. Suốt lúc ấy, hương tử đinh hương quẩn quanh anh. Có lúc anh nghe vẳng rất khẽ từ một con phố xa tiếng đàn organ quay tay bắt đầu cất lên, và anh tưởng những lời lẽ hào hùng của mình đang theo nhịp một điệu nhạc bé nhỏ từ bên dưới hoặc bên ngoài thế gian vọng tới.

Anh cứ nhìn mái tóc đỏ và khuôn mặt đầy thích thú của cô gái mà nói, tưởng chừng chỉ mới được vài phút; rồi, nghĩ rằng ở một nơi như thế này, các nhóm cũng nên hòa vào nhau, anh đứng dậy. Anh kinh ngạc thấy cả khu vườn trống không. Mọi người đã về từ lâu, và anh cũng ra về sau một lời cáo lỗi khá vội. Lúc ra đi, đầu óc anh lâng lâng như có sâm banh, một cảm giác mà về sau anh không tài nào giải thích nổi. Cô gái ấy hoàn toàn không dự phần vào những biến cố điên cuồng sắp tới; mãi đến khi toàn bộ câu chuyện của anh kết thúc, anh mới gặp lại cô. Vậy mà, theo một cách không sao tả được, hình ảnh cô cứ trở đi trở lại như một chủ đề trong âm nhạc suốt những cuộc phiêu lưu điên cuồng về sau của anh, và vẻ rực rỡ của mái tóc lạ lùng ấy chạy như một sợi chỉ đỏ xuyên qua những tấm thảm đêm u tối, nét vẽ vụng về. Vì những gì xảy ra sau đó khó tin đến mức rất có thể là một giấc mơ.

Khi Syme bước ra con phố dưới ánh sao, lúc ấy phố vắng tanh. Rồi anh nhận ra (bằng một cách lạ lùng nào đó) rằng cái im lặng ấy dường như đang sống chứ không phải đã chết. Ngay ngoài cửa có một cột đèn đường, ánh sáng dát vàng những chiếc lá trên cái cây nghiêng ra ngoài hàng rào sau lưng anh. Cách cột đèn chừng một bộ, một bóng người đứng gần như cứng đờ và bất động chẳng kém chính cột đèn. Mũ chóp cao và áo khoác lễ phục dài đều màu đen; khuôn mặt, nằm trong một mảng tối bất ngờ, gần như cũng đen như vậy. Chỉ một viền tóc rực lửa ngược sáng, cùng chút gì hung hăng trong dáng đứng, mới cho biết đó là nhà thơ Gregory. Anh ta trông hao hao một tên thích khách đeo mặt nạ, tay cầm kiếm chờ kẻ thù.

Anh ta chào bằng một cử chỉ có vẻ ngập ngừng; Syme đáp lễ có phần trang trọng hơn.

“Tôi đợi anh,” Gregory nói. “Tôi có thể nói chuyện với anh một lát được không?”

“Được chứ. Chuyện gì vậy?” Syme hỏi, có vẻ hơi ngơ ngác.

Gregory vung gậy đánh vào cột đèn, rồi vào cái cây. “Về cái này và cái này,” anh ta kêu lên; “về trật tự và chủ nghĩa vô chính phủ. Đó là cái trật tự quý báu của anh, cái cột đèn sắt gầy guộc kia, xấu xí và cằn cỗi; còn đó là chủ nghĩa vô chính phủ, sum suê, sống động, tự sinh sôi — đó là chủ nghĩa vô chính phủ, lộng lẫy sắc xanh và vàng.”

“Dẫu vậy,” Syme kiên nhẫn đáp, “ngay lúc này, anh chỉ thấy được cái cây nhờ ánh sáng cột đèn. Không biết đến bao giờ anh mới thấy được cột đèn nhờ ánh sáng cái cây.” Ngừng một lát, anh nói: “Nhưng xin hỏi, anh đứng ngoài này trong bóng tối chỉ để tiếp tục cuộc tranh luận nhỏ của chúng ta thôi sao?”

“Không,” Gregory kêu lên, giọng vang dọc con phố, “tôi không đứng đây để tiếp tục cuộc tranh luận của chúng ta, mà để kết thúc nó vĩnh viễn.”

Sự im lặng lại buông xuống, và dù chẳng hiểu gì, Syme vẫn theo bản năng lắng nghe, chờ một điều nghiêm túc. Gregory bắt đầu nói, giọng êm ái, với một nụ cười khá khó hiểu.

“Anh Syme,” anh ta nói, “tối nay anh đã làm được một việc khá khác thường. Anh đã làm với tôi một việc mà trước nay chưa một ai do đàn bà sinh ra từng làm nổi.”

“Thật thế sao!”

“Giờ tôi nhớ ra rồi,” Gregory lại nói, vẻ suy tư, “có một người khác đã làm được việc ấy. Thuyền trưởng một chiếc tàu hơi nước giá vé một penny (nếu tôi nhớ không lầm) ở Southend. Anh đã làm tôi bực mình.”

“Tôi rất lấy làm tiếc,” Syme nghiêm trang đáp.

“Tôi e rằng cơn thịnh nộ của tôi và lời sỉ nhục của anh quá ghê gớm, ngay cả một lời xin lỗi cũng không xóa nổi,” Gregory nói hết sức bình thản. “Không cuộc đấu tay đôi nào có thể xóa được điều ấy. Nếu tôi đánh chết anh, tôi cũng không xóa nổi. Chỉ có một cách xóa bỏ lời sỉ nhục ấy, và tôi chọn cách đó. Tôi sẽ, dù có thể phải hy sinh cả tính mạng lẫn danh dự, chứng minh cho anh rằng những lời anh nói là sai.”

“Những lời tôi đã nói ư?”

“Anh nói tôi không nghiêm túc với việc làm một người vô chính phủ.”

“Sự nghiêm túc cũng có nhiều mức độ,” Syme đáp. “Tôi chưa hề nghi ngờ anh hoàn toàn thành thật theo nghĩa này: anh nghĩ những điều mình nói rất đáng nói, anh nghĩ một nghịch lý có thể làm con người thức tỉnh, nhận ra một sự thật bị lãng quên.”

Gregory nhìn anh không rời, vẻ đau đớn.

“Vậy ngoài nghĩa ấy ra,” anh ta hỏi, “anh không cho là tôi nghiêm túc sao? Anh cho tôi là một flâneur thỉnh thoảng buông vài sự thật. Anh không cho rằng tôi nghiêm túc theo một nghĩa sâu xa hơn, nguy hiểm chết người hơn.”

Syme nện mạnh cây gậy xuống đá lát đường.

“Nghiêm túc!” anh kêu lên. “Lạy Chúa! Con phố này có nghiêm túc không? Những cái đèn lồng Trung Hoa chết tiệt này có nghiêm túc không? Cả cái mớ này có nghiêm túc không? Người ta đến đây nói một lô nhăng nhít, và có lẽ xen cả vài điều có lý, nhưng tôi sẽ chẳng coi ra gì một người không giữ riêng trong đời mình một điều nghiêm túc hơn tất cả những lời trò chuyện này — một điều nghiêm túc hơn, dù là tôn giáo hay chỉ là rượu.”

“Được lắm,” Gregory nói, mặt tối sầm lại, “anh sẽ được thấy một điều nghiêm túc hơn cả rượu lẫn tôn giáo.”

Syme đứng đợi, vẫn với vẻ hiền lành thường lệ, cho tới khi Gregory lại lên tiếng.

“Anh vừa nói mình có đạo. Có thật thế không?”

“Ồ,” Syme nói, cười rạng rỡ, “giờ thì tất cả chúng ta đều là người Công giáo cả.”

“Vậy tôi có thể xin anh thề trước bất kỳ vị thần hay vị thánh nào trong đạo anh rằng anh sẽ không tiết lộ những điều tôi sắp nói với anh cho bất cứ người con nào của Ađam, và nhất là không tiết lộ cho cảnh sát được không? Anh có chịu thề như vậy không! Nếu anh chịu nhận lấy sự hy sinh ghê gớm ấy, nếu anh đồng ý bắt linh hồn mình mang nặng một lời thề anh không bao giờ nên lập và những hiểu biết anh không bao giờ nên mơ tới, đổi lại tôi sẽ hứa với anh —”

“Đổi lại anh sẽ hứa với tôi điều gì?” Syme hỏi khi anh ta ngừng lời.

“Tôi hứa anh sẽ có một buổi tối rất thú vị.” Syme đột nhiên bỏ mũ ra.

“Lời đề nghị của anh,” anh nói, “ngớ ngẩn đến mức không thể từ chối. Anh nói nhà thơ bao giờ cũng là người vô chính phủ. Tôi không đồng ý; nhưng ít ra tôi hy vọng nhà thơ bao giờ cũng là người biết chơi đẹp. Xin cho phép tôi, ngay tại đây và ngay bây giờ, thề với tư cách một người Kitô hữu, và hứa với tư cách một đồng chí tốt, một đồng nghiệp trong nghệ thuật, rằng tôi sẽ không báo với cảnh sát bất cứ điều gì về chuyện này, dù đó là chuyện gì đi nữa. Giờ thì, nhân danh Colney Hatch, chuyện gì thế?”

“Tôi nghĩ,” Gregory nói, thản nhiên lạc đề, “chúng ta sẽ gọi một cỗ xe.”

Anh ta huýt hai tiếng sáo dài, và một cỗ xe ngựa hai bánh lạch cạch chạy đến dọc con đường. Cả hai im lặng lên xe. Qua ô cửa trên nóc, Gregory nói địa chỉ một quán rượu ít người biết ở bờ sông phía Chiswick. Cỗ xe lại vụt đi, và trên cỗ xe ấy, hai con người kỳ quặc rời khỏi thị trấn kỳ quặc của mình.


Tùy chọn cookie và quyền riêng tư

Bạn kiểm soát dữ liệu của mình

Tìm hiểu thêm về các cookie chúng tôi sử dụng và chọn những cookie bạn cho phép.

  • Các cookie này cần thiết để trang web hoạt động bình thường, bao gồm các chức năng như đăng nhập và thêm sản phẩm vào giỏ hàng.

  • Các cookie này lưu thông tin về hoạt động của bạn để cá nhân hóa trải nghiệm trong lần truy cập trang web tiếp theo.

  • Chúng tôi và các đối tác, bao gồm Shopify, sử dụng các cookie này để tối ưu hóa thông điệp tiếp thị và hiển thị quảng cáo cho bạn trên các trang web khác.

  • Các cookie này giúp chúng tôi hiểu cách bạn tương tác với trang web. Chúng tôi sử dụng dữ liệu này để xác định những điểm cần cải thiện.